BÁO CÁO VỀ TÌNH HÌNH NGÀNH IN TPHCM VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI IN TPHCM
TRONG NĂM 2012 VÀ NHỮNG THÁNG ĐẦU NĂM 2013
I. TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP IN THẾ GIỚI
Mặc dù có sự lấn áp của các phương tiện truyền thông khác nhưng ngành in và bao bì thế giới vẫn tăng trưởng chậm hàng năm (4,1%), đáng lưu ý là tốc độ tăng của in KTS giữ đều đặn khoảng 12,2% hàng năm. Tổng doanh thu của toàn ngành in trong năm 2013 dự kiến đạt khoảng 840 tỉ USD.
| 2008 | 2013 | CAGR (%) 2008-13 |
|
| Tổng doanh thu của ngành in/bao bì (triệu USD) | 686.163 | 839.789 | 4.1 |
| Tỉ lệ % của in kỹ thuật số trên toàn ngành | 8.9 | 15.8 | 12.2 |
Bảng 1: Tổng doanh thu của ngành in kỹ thuật số so với ngành in/bao bì trên phạm vi toàn cầu giai đoạn 2008-18
CAGR (%): Tỉ lệ tăng trưởng bình quân hàng năm
Nguồn: Pira International Ltd.,
In offset vẫn chiếm tỉ trọng cao nhất với 48%, các phương pháp in khác là 36%, đáng chú ý là in KTS đã chiếm tỉ trọng 16%. Theo các số liệu khảo sát sơ bộ của Hội In TPHCM tỉ trọng của in KTS so với các PP in khác hiện nay chưa đạt 1% tại TPHCM.

Bảng 2: Tỉ lệ % các phương pháp in trên tổng doanh thu, phạm vi: toàn cầu, 2008-13 (%)
Nguồn: Pira International Ltd.,
Trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương, thị phần của in offset tờ rời (tính trên tổng doanh thu từ các PP in) trong năm 2013 vẫn cao hơn các PP in khác. In offset cuộn có sấy tăng chậm đến năm 2012 và có dấu hiệu suy giảm vào năm 2013, in offset cuộn có sấy tăng đều hàng năm nhưng những năm sau này không tăng nhiều như giai đoạn 2007-2009.
Các PP in khác cũng thay đổi theo xu thế chung của thế giới.

Bảng 3: Thị phần của các phương pháp in trong khu vực Châu Á -TBD
Ghi chú: Giá trị tổng có thể không tăng lên do làm tròn.
Nguồn: Pira International Ltd.,
Mỹ vẫn có tổng giá trị sản phẩm công nghiệp in lớn nhất thế giới, Trung Quốc là một hiện tượng trỗi dậy liên tục trong 10 năm qua và trở thành quốc gia có giá trị sản phẩm công nghiệp in đứng thứ 3. Hiện nay Trung Quốc là cường quốc in gia công lớn nhất thế giới.

Bảng 4: 12 nước có giá tri sản phẩm công nghiệp in lớn nhất thế giới
Nguồn: Pira International, dữ liệu cho năm 2010
II. TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP IN VIỆT NAM
III. NGÀNH IN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
III.1. Các số liệu thống kê
Tổng doanh thu của 48 doanh nghiệp in được khảo sát tại TPHCM trong năm 2012 là 7447,9 tỷ đổng, trong đó các công ty thuộc loại hình TNHH và Tư nhân chiếm tỷ trọng cao nhất (38.5%), kế đến là công ty Nhà nước (32.5%) và công ty Cổ phần (29%). So với năm 2011, mặc dù có một số cơ sở vẫn giữ được đà tăng trưởng nhưng nhìn ở mặt bằng chung thì doanh thu năm 2012 có giảm. Nguyên nhân có thể đến từ việc chi phí sản xuất cho ngành in ngày một tăng, trong khi đó sản lượng giảm xuống ở một số phân khúc sản phẩm như báo, tạp chí… và gặp phải sự canh tranh từ các công ty có vốn đầu tư nước ngoài.
Hệ số lợi nhuận trước thuế trên doanh thu cho biết tính hợp lý khi sử dụng các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh để tạo ra lợi nhuận, là thước đo nhằm xác định đòn bẩy hoạt động mà một công ty đạt được trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. Hệ số này cao có nghĩa là quản lý chi phí có hiệu quả hay doanh thu tăng nhanh hơn chi phí hoạt động.
Trong năm 2012, hệ số lợi nhuận trước thuế trên doanh thu tại TPHCM là 0.0344, trong đó 57.8% số công ty đạt trên mức trung bình ngành và 42.2% công ty đạt dưới mức trung bình ngành. Đây là tỷ lệ tương đối khả quan, trong đó các công ty thuộc loại hình Cổ phần, TN và TNHH chiếm đa số. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng cần cải thiện chất lượng nhiều hơn để gia tăng hệ số này, đồng nghĩa với việc kinh doanh đạt hiệu quả cao hơn và giúp tăng nhanh doanh thu cũng như lợi nhuận trước thuế.
Tỷ lệ doanh thu trên số lao động cho biết mức độ hiệu quả trong hoạt động của doanh nghiệp. Trong đó, các công ty có hệ số này càng cao thường được xem là hiệu quả hơn những công ty có hệ số thấp. Điều này được diễn giải rằng một công ty có hệ số doanh thu trên mỗi lao động cao chứng tỏ công ty có thể hoạt động với
tổng chi phí thấp, tạo doanh thu nhiều hơn với số lượng nhân viên ít hơn, từ đó chuyển thành lợi nhuận tốt hơn.
Trong năm 2012, hệ số doanh thu/ lao động của các công ty in tại TPHCM đạt mức trung bình là 1.1 tỷ doanh thu/ lao động, có 29.2% công ty đạt trên mức trung bình ngành và 70.8% công ty dưới mức trung bình ngành. Từ đó có thể cho thấy, các doanh nghiệp in tại TPHCM trong quá trình hoạt động có tổng chi phí còn tương đối cao, ảnh hưởng đến doanh thu trên mỗi đơn vị lao động và mức lợi nhuận đạt được. Tuy nhiên khi xét riêng từng loại hình, một điều đặc biệt là một số công ty Cổ phần, TNHH và TN có hệ số này cao vượt trội hơn mức trung bình ngành, điều đó chứng tỏ những công ty thuộc loại hình này đang từng bước cải tiến chất lượng hoạt động, giảm chi phí, nâng cao tay nghề lao động, từ đó giúp tăng doanh thu và tạo lợi nhuận nhiều hơn.
| Nhà nước | Cổ phần | TN và TNHH | |
| Tổng đầu tư (tỷ đồng) | 209 | 107 | 39.73 |
Mức tổng đầu tư được phân bổ nhiều nhất ở khối doanh nghiệp Nhà nước, trong khi đó các công ty Cổ phần, đặc biệt là TN và TNHH thì khá khiêm tốn. Lý do một phần do các công ty có lợi nhuận sau thuế không nhiều, nguồn vốn nội bộ chưa thật sự dồi dào để đẩy mạnh đầu tư. Bên cạnh đó, cuộc suy thoái kéo dài trong những năm gần đây, tỷ lệ lạm phát gia tăng cũng như lãi suất ngân hàng còn cao nên các doanh nghiệp chưa mạnh dạn vay vốn nhiều. Tuy nhiên, khi tình hình kinh tế trở nên khả quan hơn cùng với sự hỗ trợ về chính sách, lãi suất ổn định và hợp lý hơn sẽ giúp cho các doanh nghiệp in có được cơ hội để gia tăng vốn cũng như vay vốn đầu tư.
III.2. Sự phát triển và các đặc trưng của ngành in TPHCM trong năm 2012 và sáu
tháng đầu năm 2013.
Qua điều tra phỏng vấn kết hợp với bản khảo sát, trong năm 2012 và 6 tháng đầu năm 2013, ngành in TPHCM tiếp tục phát triển chậm với các đặc trưng sau:
Theo số liệu của Cục Xuất Bản, năm 2012 số đầu sách xuất bản trong năm là 28.009 cuốn, tổng số bản sách xuất bản là 301,717 triệu bản tăng chút ít so với năm trước. Tuy vậy số lượng in bình quân trên một đầu sách có xu hướng ngày một giảm. Trong 64 nhà xuất bản chỉ có nhà xuất bản Giáo Dục có số bản in bình quân là 69.000 bản/đầu sách, nhà xuất bản Kim Đồng 9.000 bản/đầu sách; còn 62 nhà xuất bản còn lại số lượng in bình quân chỉ khoảng 2.000 bản/ đầu sách, trong đó có 14 nhà xuất bản in dưới 1.000 bản/đầu sách. Xu thế tăng đầu sách, giảm số lượng và giảm số trang đang là một thực tế kể cả đối với nhà xuất bản Giáo Dục khi chủ trương một môn học nhiều bộ sách được thực hiện. Lượng sách khâu chỉ sẽ ngày một giảm. Những thông tin đó cần được các nhà in đang in sách là chủ yếu cần lưu ý trong giai đoạn tiếp theo.
Trong lĩnh vực in sách giáo khoa, chỉ có một ít doanh nghiệp tận dụng lợi thế công nghệ kết hợp in offset cuộn và khâu thành phẩm tốt đạt mức lợi nhuận khoảng 5% trên doanh thu. Các doanh nghiệp còn lại tham gia in sách giáo khoa nhằm tranh thủ nguồn hàng này vào thời điểm đầu năm để tạo công ăn việc làm cho công nhân. Mặc dù NXB Giáo dục cũng đã tính toán để các nhà in có lợi nhuận và bù hao giấy thích hợp nhưng các nhà in với công nghệ bình thường và quản lí tốt chỉ đạt mức lợi nhuận không đáng kể ( từ 1-2% – đã bao gồm cả nguồn giấy tiết kiệm được), các nhà in quản lí khong chặt chẽ để hư hàng hoặc thiếu giấy bù hao đều bị lỗ.
Lĩnh vực in ấn phẩm bằng công nghệ in Offset cuộn có sấy (Heat set) vẫn là lợi thế độc quyền của ngành in TPHCM với 3 máy in M600 đang dư hơn 50% công suất do thị trường in tạp chí bằng công nghệ in này đã giảm 40% trong 2 năm qua. Đây là mối đe doạ đáng kể cho các sản phẩm in ofset tờ rời truyền thống khi các chủ hàng lớn đang có khuynh hướng chuyển đổi dần các mặt hàng như lịch block, tờ rơi quảng cáo, tờ giới thiệu sản phẩm số lượng lớn sang sản xuất trên các thiết bị này. Dự kiến trong mùa lịch năm nay sẽ có thêm 40% lượng lịch block chuyển sang in cuộn có sấy. Đây cũng là khuynh hướng tất yếu của ngành in các nước trên thế giới vì các máy in này cho chất lượng cao, ổn định, giá thành thấp (do sử dụng được các loại giấy có định lượng thấp). Tuy nhiên với sự phát triển của thương mại điện tử và sự suy giảm số lượng của một số loại tạp chí thì tình hình phát triển của công nghệ in Heat set vẫn là một ẩn số trong năm 2014.
Lĩnh vực in báo bằng công nghệ cool set truyền thống đang gặp nhiều khó khăn khi số lượng in đang giảm dần, công suất in loại sản phẩm này đang dư thừa nên giá cả in giảm sút, trong khi chi phí sản xuất đang tăng hàng năm. Số tờ báo và tạp chí có lợi nhuận rất ít nên khả năng thanh toán yếu, nợ kéo dài. Hầu hết các nhà in có in báo, tạp chí nhiều đều đang giảm sản lượng, thu hẹp sản xuất hoặc phải chuyển hướng mặt hàng. Tình trạng này sẽ ngày một xấu hơn khi báo mạng đang lấn lướt báo in và các phương tiện truyền thông điện tử được cải tiến liên tục.
Các số liệu thu được qua các phỏng vấn trực tiếp các giám đốc doanh nghiệp in cho thấy lợi nhuận từ bao bì và nhãn hàng nhiều gấp 3 – 4 lần so với sản xuất các sản phẩm khác với luận nhuận từ 10-15% trên doanh thu.
Một trong những điểm đáng lo nhất trong năm 2013 và đầu năm 2014 là làn sóng các doanh nghiệp in đổ dồn sang đầu tư khai thác thị trường bao bì – nhãn hàng sẽ khiến cho lợi nhuận của ngành hàng này giảm mạnh đồng nghĩa với việc thiết bị sẽ bị dư công suất như in báo không sấy hiện nay.
Các ấn phẩm như cataloge, tờ giới thiệu sản phẩm tăng từ 10-15%.Khủng hoảng kinh tế đã buộc các doanh nghiệp cắt giảm nhiều khoản chi phí, nhưng để tiếp tục tồn tại và phát triển thì phải quảng bá sản phẩm, dịch vụ và củng cố thương hiệu do vậy các ấn phẩm như tờ rơi, các catalogues, brochures, các tài liệu hướng dẫn sử dụng tiếp tục tăng. Tuy nhiên do các cơ sở in hiện đại tiếp tục giảm giá thành để thu hút khách hàng nên giá công in các loại ấn phẩm này trong 4 năm qua không tăng trong khi giá nhân công, chi phí nguyên vật liệu và điện nước đều tăng. Vì vậy nếu không có sự hiệp thương về giá cả thì sự tăng trưởng của các ngành hàng này chưa chắc đã mang lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp in.
Qua phỏng vấn các Giám đốc doanh nghiệp chuyên in hoá đơn cho thấy do số lượng các nhà in tổng hợp tham gia in hoá đơn ngày càng nhiều nên doanh số của các doanh nghiệp chuyên in hoá đơn tại TPHCM giảm 20% trong năm 2012 và mức lợi nhuận của ngành đặc thù này đã giảm từ >15% (trước năm 2010) xuống còn khoảng 5% trong năm 2012. Một số doanh nghiệp chuyên in hoá đơn đang cơ cấu lại để tham gia lĩnh vực in bao bì và nhãn hàng.
In kỹ thuật số đen trắng hiện nay đang bị cạnh tranh từ hai phía: các máy Photocopy cũ rẻ tiền và các máy in offset second hand. In màu KTS bị cạnh tranh với in offset khi in ghép nhiều sản phẩm trên một trang in. Với cách tiếp cận như in offset truyền thống thì giá thành theo trang in là một rào cản lớn nhất của in kỹ thuật số.
Các phản hồi từ các nhà In KTS cho thấy có sự chênh lệch lớn về lợi nhuận và doanh thu giữa các công ty hoạt động trong lĩnh vực in KTS. Các nhà in lớn có đầu tư máy móc thiết bị hiện đại có mức doanh thu từ KTS tăng đều hàng năm và lợi nhuận tăng tương ứng (công ty Vi Ấn). Các doanh nghiệp in KTS nhỏ, địa điểm kinh doanh không phù hợp và sử dụng máy móc thiết bị cũ liên tục thua lỗ trong 3 năm qua. Có 3 nguyên nhân dẫn đến hiện tượng trên:
In chỉ là một công đoạn trong việc sản xuất một sản phẩm in cuối cùng, trong đó thành phẩm đóng một tỷ trọng không nhỏ trong giá thành. Thành phẩm ở Việt Nam chủ yếu được thực hiện thủ công do giá nhân công rẻ. Các nhà kinh doanh in KTS hiện nay chưa quan tâm đến thiết bị thành phẩm chuyên dùng cho KTS nên chất lượng thành phẩm rất kém và thường làm hỏng cả tài liệu. Chính vì vậy ưu thế về thời gian và chất lượng của in kỹ thuật số mất đi và kèm theo đó là mất đi tính cạnh tranh của nó trên thị trường vốn đã có nhiều phức tạp.
Vì các nhà in KTS hoạt động như một cơ sở sản xuất chứ không phải là một cơ sở cung cấp dịch vụ nên giá thành là yếu tố quan trọng nhất. Tiêu chí hàng đầu của nhà đầu tư cũng như khách hàng hiện nay là giá rẻ. Trên thế giới, khi kinh doanh KTS thì giá trị gia tăng mới là các yếu tố làm nên lợi nhuận. Các giá trị gia tăng của in kỹ thuật số in nhanh theo yêu cầu, in dữ liệu biến đổi, thời gian, kinh doanh qua web phải được nhận thức đúng đắn từ phía các cơ sở in cũng như thị trường.
Các nhà in KTS hiện nay tại VN muốn có lời phải sáng tạo nên các sản phẩm và bán giá trị sáng tạo chứ không bán giá trị qua sản phẩm là tờ in. Nếu không giải quyết được các yếu tố này, in KTS sẽ không có cơ hội để phát triển tại VN.
10. Việc đầu tư và đổi mới công nghệ khựng lại
Tổng vốn đầu tư thiết bị mới cho ngành In TPHCM trong năm 2012 khoảng 20 triệu USD (chỉ riêng tổng đầu tư của 48 doanh nghiệp được khảo sát đã gần 356 tỉ đồng), trong đó cần nổi bật là nhà máy in của Viettel tại khu công nghiệp Tân Phú Trung, máy in cuộn có sấy M600 của Trần Phú và 3 máy in KTS HP Indigo. Trong các năm tới, nếu tình hình kinh tế cải thiện hơn, lãi suất ngân hàng giảm hơn nữa và để bảo đảm tăng sản lượng từ 5 đến 10% và duy trì lợi thế cạnh tranh về mặt công nghệ thì ước tính ngành in TPHCM cần số vốn đầu tư từ 20 triệu đến 40 triệu USD mỗi năm. Tuy nhiên việc đầu tư và phát triển chủ yếu vẫn ở các công ty lớn có vốn nhà nước, đầu tư còn trùng lắp, thiếu sự đa dạng và đồng bộ, vừa gây lãng phí vốn đầu tư, vừa tạo thêm sức ép trong cạnh tranh ở phân khúc thị phần sản phẩm truyền thống. Trong khi đó các doanh nghiệp in TPHCM còn bỏ ngỏ khá nhiều khoảng trống của thị trường để cho các doanh nghiệp vốn nước ngoài nhảy vào.
Do đầu tư mang tính tổng hợp và đối phó với sự phát triển của thị trường cũng như yêu cầu nhất thời của khách hàng nên đa số nhà in tại TPHCM vẫn mang dáng dấp của một nhà in tổng hợp. Số lượng nhà in chuyên biệt chiếm không quá 10 đơn vị. Đây chính là nguyên nhân cơ bản của sự cạnh tranh gay gắt trong tình trạng suy giảm do ảnh hưởng của khủng hoảng toàn cầu như hiện nay.
Năm 2012 đánh giá sự đầu tư táo bạo của các công ty tư nhân vào lĩnh vực in KTS với 3 máy in HP Indigo thế hệ mới có chất lượng và năng suất in cao. Tuy nhiên Công nghệ in KTS chưa phát triển nổi trội, các doanh nghiệp in KTS lớn và có uy tín đang hoạt động tốt với doanh thu và lợi nhuận tăng đều đặn khoảng 10% mỗi năm, các doanh nghiệp nhỏ đang hoạt động cầm chừng và phải kết hợp với in Offset để tồn tại. Nếu các doanh nghiệp in KTS không ngồi lại hiệp thương với nhau thì chắc chắn mô hình in KTS tại TPHCM sẽ phát triển biến dạng không tương xứng với tiềm năng của ngành in TPHCM và sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp in nước ngoài xâm nhập vào thị trường.
Hoạt động xuất phim (CTF) vẫn trong giai đoạn giảm dần và ngày càng giảm nhanh theo sự phát triển của vật liệu chế tạo bản CTP, hiện nay đơn giá cho vật liệu phim và bản kẽm đã gần bằng nhau nên các nhà in sẽ chuyển sang dùng bản CTP do giá thành rẻ và chất lượng cao hơn. Với khuynh hướng công nghệ chế tạo máy CTP ghi được trên các loại kẽm PS truyền thống như hiện nay, chắc chắn các nhà in sẽ sử dụng CTP ngày càng nhiều và dần dần loại bỏ máy ghi phim.
Việc chuyển đổi công nghệ trong thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực. Việc chuyển đổi từ CTF sang CTP đang diễn ra khá nhanh và mang lại hiệu quả. Công nghệ CTP sẽ nở rộ trong năm 2014 với sự tham gia của các nhà cung cấp thiết bị Trung Quốc (giá thành chỉ còn khoảng 50% so với các loại máy của Đức, Mỹ , Nhật). Chế bản flexo và ống đồng cũng không còn khó khăn như trước nhờ đầu tư công nghệ mới.
Ở khâu in, công nghệ in offset và ống đồng đang có dấu hiệu chững lại tuy vẫn là mảng đầu tư lớn nhất, in flexo và kỹ thuật số bắt đầu gia tăng để đáp ứng sự chuyển đổi về cơ cấu và mẫu mã sản phẩm, đó cũng là xu thế chung của thế giới. Ở đây đòi hỏi sự đột phá và chiến lược kinh doanh bài bản thì mới mang lại hiệu quả bởi chi phí đầu tư là không nhỏ, kỹ năng vận hành chưa quen thuộc và thành thạo.
Khâu sau in cũng được đầu tư khá mạnh nhưng thiết bị mới và hiện đại chưa nhiều nên năng suất lao động còn thấp.
11. Chưa chú trọng đến công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Một trong những nguyên nhân khiến ngành In chưa phát triển như mong muốn chính là thiếu hụt nguồn nhân lực cả quản lí cấp cao lẫn các lao động có chuyên môn và tay nghề giỏi.
Ước tính ngành In TPHCM hiện sử dụng khoảng 15.000 lao động. Nhu cầu mỗi năm phải bổ sung khoảng 600 lao động các loại. Sau khi trường trung cấp nghề in thuộc công ty in Trần Phú ngừng hoạt động, TPHCM và các tỉnh phía Nam đã mất đi một cơ sở đào tạo có truyền thống và cung cấp hơn 90% nhân lực cho ngành In, đây là một vấn đề không thể bù đắp được nếu không có biện pháp thay thế. Trong năm 2012, trường Đại học SPKT cung cấp khoảng 100 kỹ sư công nghệ in, đào tạo cấp chứng chỉ quản lí in cho khoảng 50 giám đốc – chủ doanh nghiệp và bồi dưỡng nâng bậc khoảng 100 lượt công nhân; Trường trung cấp nghề An Đức tuyển sinh được 45 học viên và có 30 em tốt nghiệp trung cấp nghề in; cơ sở đào tạo ITAXA cung cấp các khóa bồi dưỡng và đào tạo công nhân ngắn hạn cho 80 học viên mỗi năm; Trường trung cấp nghề Sài Gòn 3 mỗi năm tuyển sinh khoảng 25 học viên, đã có 30 em tốt nghiệp trung cấp nghề in. Như vậy mỗi năm khả năng đào tạo và bồi dưỡng của các trường chuyên ngành In tại TPHCM chỉ khoảng 240 người.
Một điểm sáng trong đào tạo tại TPHCM là công ty In 7 đã chủ động tuyển công nhân và tự đào tạo. Trong năm 2012, In 7 đã tuyển được 80 thanh niên học hết lớp 12, chọn lựa lại được 40 Em để đào tạo (trả lương bằng lao động phổ thông), đến nay còn 28 Em tham gia sản xuất. Chi phí cho khoá đào tạo này là 400 triệu đồng (chi phí hơn 14 triệu đồng cho 1 người).
Về số lượng thì các cơ sở đào tạo chuyên ngành chưa có khả năng đáp ứng. Còn về chất lượng thì càng là vấn đề cấp bách hơn bởi đã đến lúc chất lượng nguồn nhân lực có ý nghĩa quyết định hơn cho sự phát triển bền vững. Hiện nay cái thiếu nhất ở các doanh nghiệp in chính là nguồn nhân lực chất lượng cao cả ở khâu quản lý cũng như ở các công đoạn sản xuất. Nhà nước cần phải có chính sách hỗ trợ nhưng cũng rất cần phương thức xã hội hóa mới có thể giải quyết được vấn đề cấp bách này.
Khoảng 90% lực lượng lao động hiện nay là truyền nghề tại nơi làm việc và không qua đào tạo bài bản. Do vậy chất lượng lao động chưa cao, năng suất lao động thấp. Các cơ sở đào tạo nhân lực cho ngành hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu bổ sung và thay thế của các doanh nghiệp, không chỉ do thiếu các cơ sở đào tạo mà còn do không có đầu vào. Các cơ sở đào tạo đều cho biết hiện nay cơ số chiêu sinh còn thấp hơn rất nhiều so với khả năng đào tạo của các trường mặc dù chi phí đào tạo không cao.
Rất ít doanh nghiệp đầu tư kinh phí cho khâu đào tạo, không tự cử người đi học nghề mà chờ sẵn nguồn cung cấp từ các trường hoặc săn đón lao động từ các doanh nghiệp khác, trong khi việc chiêu sinh của các trường đang rất khó khăn do xã hội không mấy quan tâm đến việc học nghề in như nhiều ngành nghề phổ thông khác. Qua khảo sát, hầu hết các doanh nghiệp in đều bức xúc về công tác đào tạo không đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng cao. Nhiều nơi đã đầu tư hàng chục tỷ đồng cho máy móc thiết bị nhưng chất lượng lao động không đáp ứng nên hiệu quả đầu tư thấp, gây lãng phí và chậm thu hồi vốn.
Thu nhập bình quân toàn ngành in hiện nay khoảng 6 triệu đồng/người/tháng, ở một số nhà in nhỏ thu nhập bình quân chỉ hơn 3 triệu đồng, ở mức trung bình so với mặt bằng chung của xã hội.
12. Ngành In chưa có qui hoạch cụ thể và rõ ràng, chưa được quan tâm đúng mức
Các cơ chế, chính sách của Nhà nước đối với ngành in còn thiếu nhất quán và không tạo động lực để phát triển. Nhà nước luôn xếp ngành in là ngành đặc thù, hoạt động của ngành in mang tính đặc thù, kinh doanh trong ngành in đối với các xuất bản phẩm là kinh doanh có điều kiện, trong khi đó chính sách của Nhà nước đối với ngành in lại không thể hiện tính đặc thù. Việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp từ 30% xuống còn 10% đối với in các xuất bản phẩm là trường hợp duy nhất. Tuy vậy số nhà in có in xuất bản phẩm thì doanh thu, lợi nhuận không lớn nên việc hưởng lợi từ chính sách ưu đãi này không nhiều. Tỷ suất lợi nhuận trong ngành in hiện nay rất thấp, không đáp ứng cho tái sản xuất mở rộng nhưng việc đề xuất giảm thuế thu nhập doanh nghiệp để tạo điều kiện cho ngành in phát triển vẫn chưa được đáp ứng.
Hiện nay, mặc dù ngành in là ngành đóng góp GDP cao và thu hút nhiều lao động nhưng vẫn chưa có qui hoạch cụ thể cho ngành in TPHCM, vẫn coi ngành in là một ngành kinh doanh đặc biệt gây ô nhiễm nghiêm trọng và cần giới hạn nên việc đầu tư của các doanh nghiệp in vào các khu công nghiệp rất khó khăn và không được ưu đãi. Chính vì thiếu qui hoạch định hướng của nhà nước, thiếu sự hỗ trợ và thiếu vốn nên phần lớn các doanh nghiệp In tự tìm đất tại các vùng ven thành phố để xây dựng nhà xưởng dẫn đến sự phát triển manh mún và khó kiểm soát.
13. Khoảng 97% các nhà in hiện nay hoạt động chưa tuân thủ luật môi trường
Qua khảo sát của Hội In TPHCM, hầu hết các doanh nghiệp in và bao bì tại TPHCM chưa có ý thức về xử lí nước thải và chưa có các biện pháp quản lí nguồn chất thải nguy hại. Đây là lí do khiến cho các doanh nghiệp in bị xử phạt rất nặng khi có các đoàn kiểm tra của cảnh sát môi trường hoặc các cơ quan quản lí tài nguyên – môi trường. Hiện nay mức phạt thông thường của các nhà in nằm trong khoảng 100 triệu đến 200 triệu đồng.
14. Việc hợp tác kinh doanh với các doanh nghiệp nước ngoài còn nhiều khó khăn
Trong năm 2012, Hội In TPHCM đã tiếp nhiều Đoàn doanh nghiệp In từ nước ngoài đến tìm kiếm các cơ hội hợp tác tại TPHCM. Qua tiếp xúc, Hội In TPHCM nhận thấy phần lớn các đoàn đến TPHCM vẫn là các công ty in nhỏ hoặc đang tìm các nhà in gia công với giá rẻ mạt thông qua các đại diện tại VN. Mặc dù các nhà đầu tư nước ngoài có khuynh hướng chuyển các đơn hàng in gia công từ Trung quốc và các nước đang phát triển về VN nhưng khả năng tiếp nhận của chúng ta không cao do trang thiết bị không đồng bộ và trình độ sản xuất còn chưa cao.
Qua sự giới thiệu của Hội In TPHCM Công ty cổ phần In 7 đã liên doanh với một công ty của Nhật được 2 năm. Việc liên doanh này nằm trong chủ trương tăng giá trị kỹ thuật chứ không phải kinh tế. Từ kinh nghiệm thực tế, công ty cổ phần in 7 cho biết khi liên doanh, doanh nghiệp trong nước sẽ có lợi khi học hỏi được cách làm việc và giải quyết các vấn đề đôi khi phải mất thời gian rất dài mới có thể biết được, sẽ phải làm việc cực hơn để có lợi nhuận, Tuy nhiên, văn hoá làm việc khác nhau, bất đồng ngôn ngữ đã tạo ra xáo trộn cho cả liên doanh lẫn in 7.
Hội In TPHCM đề nghị các Thành viên của Hội nên cẩn thận và tham vấn Hội trước khi hợp tác với các công ty nước ngoài.
Tóm lại, ngành công nghiệp In TPHCM trong năm 2012 có rất nhiều khó khăn và thử thách nhưng vẫn tăng trưởng ở mức thấp hơn các năm trước đây, chất lượng sản phẩm ngày càng cao, tiếp cận được với các tiến bộ kỹ thuật của ngành in thế giới ở một số mảng sản xuất, đa dạng hóa các hình thức hoạt động của doanh nghiệp in, phục vụ tương đối tốt các nhiệm vụ chính trị và phát triển kinh tế – văn hóa của đất nước. Tuy vậy ngành in TPHCM cũng đang đứng trước rất nhiều thách thức mang tính thời đại cũng như những khó khăn vướng mắc nội tại của chính ngành in. Để vượt qua những khó khăn, thử thách này đòi hỏi phải có sự hợp lực từ phía Nhà nước, của các cơ quan quản lý ngành, của các Hội trong ngành in và của chính các doanh nghiệp in và các hội viên.
Sự qui hoạch và điều tiết hợp lí của cơ quan quản lí nhà nước kết hợp với sự tham gia tích cực và đồng thuận của các doanh nghiệp thông qua vai trò chất liên kết của các Hội nghề nghiệp sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành in trong thời gian tới.
KHUYẾN NGHỊ
Trước thực trạng hiện nay của ngành in Việt Nam, Hội in TPHCM khuyến nghị các thành viên lưu ý các điểm sau:
1) Công tác tổ chức
2) Công tác phát triển hội viên
Kể từ ngày thành lập đến nay Hội In TPHCM đã tập hợp được hơn 135 hội viên. Tuy số lượng hội viên chiếm tỷ trọng khoảng 30% các cơ sở có liên quan đến hoạt động ngành in nhưng đây là các cơ sở in lớn, chiếm khoảng 2/3 sản lượng của toàn ngành in TPHCM. Hội In TPHCM luôn coi trọng công tác phát triển hội viên và nhận thức rằng sự đóng góp của các hội viên trong sự phát triển của ngành In TPHCM là rất lớn, đồng thời quyền lợi và nghĩa vụ của các hội viên cũng liên quan mật thiết đến các chế độ chính sách và định hướng phát triển của ngành In.
Trong Hội In TPHCM còn có 6 nhà in thành viên từ các tỉnh lân cận.
3) Công tác hiệp thương về thị trường và giá cả
Đây thực sự là một trong những vấn đề bức xúc nhất hiện nay trong ngành In TPHCM nói riêng và cả Nước nói chung.
Trước tình hình lạm phát gia tăng và các nguyên vật liệu tăng giá tác động rất mạnh đến chi phí sản xuất in làm cho rất nhiều nhà in lâm vào tình trạng hết sức khó khăn. Hội đã tổ chức hội nghị thảo luận về giá cả, chi phí và giá công in. Nhiều ý kiến phát biểu trước hội nghị đã phân tích rất sâu các yếu tố tác động đến chi phí sản xuất, giá thành và những biện pháp, những giải pháp cần thiết phải thực hiện trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn. Các hội viên cũng đề nghị Hội in cần có những hành động, những hoạt động thiết thực giúp các nhà in hội viên vượt qua khó khăn, tăng cường đoàn kết và giúp đỡ, hỗ trợ nhau.
Để giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực của việc cạnh tranh đối với thu nhập, việc làm của người lao động vì sự phát triển bền vững của ngành in, Hội In TPHCM luôn kiên trì hỗ trợ các hội viên và các doanh nghiệp khác trong việc hiệp thương giá cả và phân chia thị trường
4) Tác động tới cấp quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với ngành In
Trong năm qua Hội In TPHCM đã phối hợp với các cơ quan quản lý Nhà nước như Sở Thông tin và Truyền thông, Cục Xuất Bản, Sở Nội vụ và các tổ chức khác như Hội Xuất Bản, các Nhà Xuất bản, các cơ quan báo chí đề xuất và giải trình các giải pháp tháo gỡ thông qua việc điều chỉnh một số chính sách cho ngành In như :
Hội đã chủ động đề xuất với Cục Xuất bản và Hội Xuất bản Việt Nam tổ chức hội thảo có sự tham dự của Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan, để góp ý về những nội dung liên quan đến thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi đối với hoạt động xuất bản, trong đó có hoạt động in xuất bản phẩm. Những nội dung chi tiết, cụ thể được đưa ra thảo luận trong hội thảo đã được Bộ Tài chính tiếp thu và được thể hiện trong thông tư số 123/2012/TT-BTC ngày 27/7/2012 của Bộ Tài chính, trong đó mức thuế thu nhập doanh nghiệp được giảm từ 25% xuống còn 10% đối với phần thu nhập từ hoạt động xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm có hiệu lực từ 1/1/2012 trở về sau.
5) Công tác thông tin
Thông qua các cuộc Hội nghị, Hội thảo, Hội chợ – Triển lãm, Tạp chí In và Truyền thông và trang Web chính thức của Hội www.hoiintphcm.org.vn, hội in TPHCM đã cung cấp cho hội viên hoặc tạo điều kiện cho hội viên tiếp cận với các thông tin hữu ích về quản trị kinh doanh và các thành tựu khoa học – công nghệ tiên tiến được áp dụng trong ngành In Việt Nam và thế giới, đồng thời cũng là diễn đàn để các cơ sở in, các nhà cung cấp vật tư, thiết bị và dịch vụ in có điều kiện quảng bá, giới thiệu sản phẩm, dịch vụ của mình cho các đối tác trong ngành. Cụ thể là:
6) Công tác đào tạo
Để hỗ trợ cho các hội viên và các doanh nghiệp khác trong ngành, Hội In TPHCM đang phối hợp với Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực cho ngành In TPHCM.
Trong khi chưa có một trung tâm đào tạo do Hội trực tiếp quản lý như ở một vài Hội In ở nước ngoài thì việc tổ chức đào tạo với các hình thức liên kết là hết sức cần thiết để giúp các cơ sở in bổ sung và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
7) Công tác đối ngoại
Hội đã duy trì được các mối quan hệ tốt với các tổ chức quốc tế như Phòng Thương mại và Công nghiệp Đức tại Việt Nam, Mess Duselldorf, Trung tâm Hội chợ, triển lãm BITEC Thái Lan, các Hiệp hội in Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Hồng Kông v.v… để có những thông tin cần thiết và tổ chức các đoàn doanh nghiệp in tham dự các cuộc triển lãm quốc tế, giao lưu và trao đổi thông tin với số lượng từ vài chục đến trên 100 thành viên mỗi đoàn. Riêng hội chợ Drupa – hội chợ ngành in lớn nhất toàn cầu – đoàn TPHCM đã có 60 nghười tham gia. Ở các hội chợ triển lãm khác tại Trung Quốc, Hàn Quốc, đoàn TPHCM cũng được tiếp đón nồng nhiệt và hữu nghị.
Hội đang phối hợp với trường đại học Sư phạm Kỹ thuật TP HCM để thiết lập mối quan hệ với Nhật Bản trong công tác đào tạo.
Ở trong nước, Hội cũng có mối quan hệ hợp tác với các Hội và Hiệp hội như: Hiệp hội In VN, Hội Xuất bản Việt Nam, Hiệp hội Bao bì Việt Nam, Hiệp hội Sơn và Mực In Việt Nam, Hiệp hội Giấy Việt Nam và Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam để cùng phối hợp hành động và chia sẻ kinh nghiệm trong công tác hoạt động của Hội.
Đặc biệt Hội In TPHCM từ khi thành lập đến nay luôn được sự hợp tác và ủng hộ chí tình của Hiệp hội In VN và các Sở, Ban, Ngành tại TPHCM. Đặc biệt là Sở TT-TT TPHCM.
Các mặt hoạt động của Hội In TPHCM trong những năm qua còn chưa thật sôi động, toàn diện nhưng ít nhiều cũng mang lại những lợi ích thiết thực cho các hội viên và các đơn vị hoạt động trong ngành.
V. NHỮNG TỒN TẠI VÀ HẠN CHẾ
Để nâng cao chất lượng hoạt động của Hội In TPHCM và thực hiện tốt những công tác trọng tâm kể trên, Ban Chấp hành Hội In TPHCM đề nghị toàn thể hội viên các cơ quan chức năng của Hội hãy tích cực hưởng ứng và đóng góp bằng những hoạt động cụ thể có liên quan đến trách nhiệm và khả năng của mình vì lợi ích của mỗi hội viên và vì sự nghiệp chung của ngành In TPHCM nói riêng và ngành in Việt Nam nói chung.
BCH HỘI IN TPHCM